Articles by "Ơn gọi"

Hiển thị các bài đăng có nhãn Ơn gọi. Hiển thị tất cả bài đăng


Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội 

Để tiến tới chỗ trở thành nơi đào tạo vững chắc cho các linh mục tương lai của các giáo phận miền Bắc Việt Nam như ngày hôm nay, Đại Chủng Viện Hà Nội đã trải qua biết bao thăng trầm. Có những giai đoạn bình an phát triển, có những ngày dài gian nan, ly tán: nay bị triệt hạ nơi này, mai lớn dậy ở nơi khác, luân chuyển đủ khắp bốn tỉnh trong địa bàn Giáo Phận. Đến năm 1973 mới định cư tại cơ sở hiện nay - số 40 phố Nhà Chung với tên gọi: Đại Chủng Viện thánh Giuse Hà Nội.

Tất cả từ Giám Mục bản quyền, Ban Giám Đốc đến chủng sinh đều yêu mến Chúa và tin tưởng Chúa là chủ lịch sử, Chúa luôn muốn và làm những điều tốt nhất cho chúng ta, những tông đồ tương lai của Chúa, nên ta phải vừa sử dụng vừa thích nghi mọi giây phút, hoàn cảnh, điều kiện Chúa ban để thăng tiến và thực hiện ơn gọi của mình một cách tốt nhất, nhằm đào luyện và tự đào luyện để trở nên những mục tử tốt lành như Chúa và Giáo Hội mong đợi . 

Sự hình thành và phát triển của Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội có thể chia thành các giai đoạn như sau:

1. Giai đoạn hình thành
Theo sử liệu, năm 1666, cha Francois Deydier (1637-1693) Tổng Đại Diện giáo phận Đàng Ngoài thiết lập Đại Chủng Viện đầu tiên tại Việt Nam. Cơ sở của Đại Chủng Viện chỉ là chiếc thuyền trôi nổi trên dòng sông Nhị Hà (sông Hồng). Bất chấp những khó khăn của buổi ban đầu, Đại Chủng Viện đã cho ra đời những hoa trái đầu tiên là cha Bênêdictô Hiền và cha Gioan Huệ.

Năm 1679, khi giáo phận Đàng Ngoài được tách thành hai giáo phận: giáo phận Đông Đàng Ngoài và Tây Đàng Ngoài, giáo phận Tây Đàng Ngoài đã xây dựng Đại ChủngViện tại Kẻ Non (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay). 

2. Giai đoạn củng cố và phát triển
Năm 1719, Đại Chủng Viện được chuyển về đặt cạnh Toà Giám Mục Kẻ Vĩnh (thuộc tỉnh Nam Định ngày nay). Đại Chủng Viện nhận thánh Phêrô làm Đấng Bảo Trợ và có cha thánh Phaolô Lê Bảo Tịnh làm giám đốc. Năm 1858, cùng với Toà Giám Mục, Đại Chủng Viện thánh Phêrô bị triệt phá bình địa.

Năm 1830, Tiểu Chủng Viện thánh Phêrô được xây dựng ở Hoàng Nguyên (thuộc tỉnh Hà Tây trước kia và nay thuộc thủ đô Hà Nội) có nhiệm vụ đào tạo các ứng sinh cho Đại Chủng Viện.

Năm 1862, Đức Cha Jeantet (Khiêm: 1858-1866) dời Toà Giám Mục về Kẻ Sở (thuộc tỉnh Hà Nam ngày nay), đồng thời cũng xây dựng Đại Chủng Viện tại đây.

Năm 1927, Đức Cha Gendreau (Đông: 1892-1935) khởi công xây dựng tràng tập tại Phố Nhà Chung bên cạnh Toà Giám Mục (đã được Đức Cha Puginier - Phước: 1868-1892, chuyển từ Kẻ Sở về đây năm 1886), với mục đích huấn luyện các ứng sinh cho Tiểu Chủng Viện Hoàng Nguyên. Năm 1928, tràng tập đón 113 tập sinh. Đến năm 1947, do chiến tranh loạn lạc, Tràng Tập phải đóng cửa.

Năm 1932. Đại Chủng Viện Liễu Giai, do các cha Xuân Bích đảm trách được khởi công xây dựng. Năm 1934 cơ sở khánh thành và đón nhận 30 chủng sinh khoá I thuộc 5 giáo phận: Hà Nội, Hưng Hoá, Phát Diệm, Thanh Hoá và Vinh. Năm 1940, Chủng Viện đón 107 thày khoá II. Nhưng do biến động chính trị, trường phải tạm đóng cửa hai năm, từ 1948-1949, và đến năm 1954 thì đóng cửa hẳn.

3. Giai đoạn khủng hoảng (1954 - 1973)
Sau năm 1954, do biến động chính trị- xã hội các cơ sở đào tạo linh mục của Giáo Hội miền Bắc từng bước bị đóng cửa và giải tán.

Năm 1955, cơ sở Tràng Tập được sử dụng làm Tiểu Chủng Viện Thánh Gioan. Tiểu Chủng Viện đón nhận 180 tập sinh, dưới sự hướng dẫn của cha Phaolô Phạm Đình Tụng. Đến năm 1960 trường cũng phải đóng cửa.

Trải qua những thời kỳ khó khăn, Ban Giám Đốc Chủng Viện luôn trung thành với Giáo hội. Năm 1960 Ban Giám đốc Chủng Viện Gioan thà chấp nhận chịu đóng cửa, chứ quyết không chịu để giáo viên do nhà nước chỉ định vào dạy học thuyết Mác Lê chống tôn giáo ở Chủng Viện.

Trên một thập niên (1960 -1973), trong toàn thể Giáo Hội Miền Bắc không có một chủng viện nào được chính thức hoạt động. Các chủng sinh phải trở về sống với gia đình, lao động sinh sống. Trong những năm này, ban giáo sư vẫn tiếp tục kín đáo giảng dạy những chủng sinh còn trung thành với ơn gọi linh mục. Đó là những chủng sinh có khả năng về trí thức, có điều kiện ở gần các cha giáo có thể đến thụ huấn, tuần hai buổi, từng nhóm nhỏ năm sáu người, đông nhất là mười người. Nhưng sau năm 1963 khi đức cha Phạm Năng Tĩnh giáo phận Bùi Chu truyền chức một lúc 29 linh mục mà không được sự đồng ý của nhà nước, thì tất cả chủng sinh toàn miền Bắc bị chính quyền kiểm soát chặt chẽ, hầu như tất cả các chủng sinh mà chính quyền coi là có thể tiến lên chức linh mục được đều bị rà xét, một số cựu chủng sinh bị đưa đi tập trung cải tạo từ 7 đến 10 năm, có người phải ở trại cải tạo đến 19 năm, số còn lại phải làm việc kiếm sống và âm thầm theo đuổi ơn gọi, khi có điều kiện thì một mình kín đáo đến với các cha giáo mà thụ huấn. Sách vở phải giấu kín. Hàng năm vào ngày lễ thánh bổn mạng chủng viện và ngày giáp tết tất cả các chủng sinh về tập trung ở chủng viện mừng lễ và chúc tết bề trên nhằm giữ vững mối liên lạc với Ban Giám Đốc. Cứ ba bốn tháng một lần, họ lại đến cha xứ hoặc cha giáo và thỉnh thoảng đến Đức Cha cựu giám đốc tĩnh tâm một buổi để hâm nóng lại ơn gọi. Các bề trên luôn tìm cách gìn giữ và khuyến khích độâng viên ơn gọi nơi chủng sinh. Trong thời kỳ tiếp theo khi phần lớn các cha giáo cũng bị giam tù hoặc quản chế, chủng sinh đành giữ gìn ơn gọi và sống trong hy vọng, đồng thời tìm cách tự học.

4. Giai đoạn trưởng thành
Năm 1973, Tràng Tập xưa được mở cửa trở lại với danh hiệu mới: Đại Chủng Viện Thánh Giuse ( do Đức Cha Giuse Maria Trịnh Văn Căn làm Giám đốc).

Năm 1954 con số linh mục của giáo phận Hà Nội có khoảng 55; đến năm 1973 chỉ còn khoảng 25 vì các linh mục già yếu qua đời, mà không một linh mục nào mới được truyền chức. Số linh mục thiếu hụt trầm trọng, nhưng ngay cả khi cho phép mở lại chủng viện, Nhà Nước cũng chỉ đồng ý cho nhập trường rất ít chủng sinh. Chẳng hạn chỉ 12 người trong số các chủng sinh tiểu chủng viện thánh Gioan được Nhà Nước cho phép trở lại trường; bề trên Đại Chủng Viện cũng chỉ chọn 9 người.

Khoá I của Đại Chủng Viện thánh Giuse Hà Nội khai giảng với 9 chủng sinh và 3 giáo sư. Mặc dù con số chủng sinh và con số giảng viên thật nhỏ nhoi, nhưng một tương lai đầy hứa hẹn cũng đã mở ra. Ngày 26 tháng 6 năm 1977, 9 chủng sinh khoá I kết thúc khoá học và lãnh nhận tác vụ linh mục. Do hoàn cảnh xã hội, một lần nữa Đại Chủng Viện lại chìm vào trong chờ đợi và hy vọng.

Năm 1978-1980, có khoá hàm thụ cho 4 thày giảng về học và được thụ phong linh mục ngày 26 tháng 10 năm 1980.
Với chính sách mở cửa, tương lai Đại Chủng Viện trở nên tươi sáng hơn đôi chút. Khoá II (1981-1987) được mở lại sau những ngày chờ đợi và hy vọng. Đại Chủng Viện vui mừng đón nhận 18 chủng sinh của 3 giáo phận: Hà Nội, Hải Phòng và Thái Bình, dưới sự lãnh đạo của đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang.

Năm 1987, có 3 thày là cựu chủng sinh tiểu chủng viện thánh Gioan về học hàm thụ và thụ phong linh mục ngày 25 tháng 3 năm 1993.

Với khoá III (1989-1995), gồm 56 chủng sinh thuộc 7 giáo phận miền Bắc, Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội đã thực sự trở thành nơi đào tạo linh mục cho các giáo phận miền Bắc. Từ năm 1990, Đức Hồng Y Phaolô Phạm Đình Tụng thay thế Đức Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang làm Giám đốc Đại Chủng Viện.

Lúc này, tình hình đã trở nên sáng sủa hơn. Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà nội đã được sinh hoạt đều đặn, chiêu sinh hai năm một khóa. Tuy vậy, số chủng sinh vẫn còn hạn chế, phần đông các ứngï sinh phải chờ đợi bằng cách vừa phục vụ tại các giáo xứ vừa học tập theo nhóm, theo hạt. Tóm lại, tùy hoàn cảnh cho phép mà sinh hoạt của chủng sinh trở nên chuyên sâu hay rộng rãi hơn như tham gia dạy giáo lý trẻ em và thiếu niên, giáo lý hôn nhân, tập hát trong ca đoàn hay sinh hoạt với học sinh, sinh viên v.v.

Khoá IV (1992- 1994) là khoá bổ túc thần học cho 35 học viên, trong số đó hầu hết là các cựu chủng sinh Tiểu Chủng Viện Thánh Gioan.

Năm 1994-1995, có khoá bồi dưỡng cho 12 linh mục của giáo phận Bùi Chu (ra trường ngày 27-01-1995).

Khoá V (1994- 2001), Đại Chủng Viện đón nhận 62 chủng sinh thuộc 8 giáo phận miền Bắc. Khoá V đánh dấu thời kỳ đào tạo mới của Đại Chủng Viện: từ đây, chủng viện sẽ hai năm tuyển sinh một lần; kéo dài thời gian đào tạo tới 7 năm, có năm thực tập sau năm thần II.

Khoá VI (1996-2003) có 57 chủng sinh thuộc 8 giáo phận.
Khoá VII (1998-2005) có 52 chủng sinh thuộc 7 giáo phận.
Khoá VIII (2000-2007) có 62 chủng sinh thuộc 7 giáo phận.
Vào thời điểm hiện nay, Đại Chủng Viện đang có 6 khoá theo học:

Khoá IX (2002-2009), với 54 chủng sinh thuộc 7 giáo phận.
Khoá X (2004-2011), với 73 chủng sinh thuộc 8 giáo phận.
Đầu năm học 2005-2006, Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội đã khánh thành cơ sở II, gọi là Nhà Đức Mẹ La Vang (16B-Cổ Nhuế- Từ Liêm- Hà Nội), đồng thời vui mừng đón nhận các chủng sinh khoá XI vào học.

Khoá XI (2005 – 2013), với 37 chủng sinh thuộc 8 giáo phận và 5 thày thuộc Tu Đoàn Truyền Tin. Khoá XI cũng là khóa đầu tiên áp dụng chính sách tuyển sinh hằng năm và chương trình đào tạo kéo dài 8 năm, trong đó năm đầu tiên được gọi là năm tu đức, nhằm giúp các chủng sinh làm quen với cách suy nghĩ và hành động không những của một ki tô hữu mà của một người được thánh hiến.

Khoá XII (2006-2014), với 49 chủng sinh thuộc 8 giáo phận và 2 thày thuộc Tu Đoàn Truyền Tin.

Khoá XIII (2007-2015), 49 chủng sinh thuộc 8 giáo phận.
Khoá XIV (2008-2016), 48 chủng sinh thuộc 8 giáo phận.

Nhìn lại hơn nửa thế kỷ qua, từ ngày Tràng Tập hay tiểu chủng viện thánh Gioan được xây dựng cho tới nay, khi đã có được hai cơ sở cách nhau trên dưới 15 km cùng nằm trong địa bàn thành phố Hà Nội, một cho lớp tu đức và hai lớp triết học, một cho các lớp thần học, Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội đã đón nhận và đào tạo trên 900 chủng sinh thuộc 8 giáo phận miền Bắc; trong số đó có 5 đấng đã và đang là chủ chăn của các giáo phận: Bắc Ninh, Hải Phòng, Phát Diệm, Lạng Sơn và Hà Nội; gần 400 linh mục; nhiều thày giảng đang kiên trung trong ơn gọi tận hiến. Trong số các linh mục ra trường, một số linh mục sau những năm tu nghiệp tại hải ngoại đã trở lại phục vụ trong Đại Chủng Viện.

5. Số linh mục đã được đào tạo tại Đại Chủng Viện thánh Giuse Hà Nội
- Khóa I: 9
- Năm 1978 – 1980: 4
- Khóa II: 17
- Khóa III: 44
- Khóa IV: 35
- Khóa V: 58
- Khóa VI: 54
- Khóa VII: 46
- Khóa VIII: 56

Có 5 cựu chủng sinh của Đại Chủng Viện thánh Giuse Hà Nội đã được tấn phong Giám mục: cố đức cha Giuse Nguyễn Quang Tuyến, đức cha Giuse Nguyễn Văn Yến, đức cha Giuse Vũ Văn Thiên, đức cha Giuse Đặng Đức Ngân và đức cha phụ tá tổng giáo phận Hà Nội Laurensô Chu Văn Minh.

6. Ban Giám đốc Đại Chủng Viện thánh Giuse Hà Nội theo thời gian
Từ năm 1973 – 1977
Giám đốc: Đức hồng y Giuse Maria Trịnh Văn Căn.
Phó giám đốc: Cha Giuse Trần Văn Mai. Cha Mai kiêm Giám học và quản lý Đại Chủng Viện.
Linh hướng: Cha Giuse Vũ Ngọc Bích.

Từ năm 1981 - 1989
Giám đốc: Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang.
Phó giám đốc: Cha Gioan Đỗ Tông; cha Chính Tông kiêm giám học đại chủng viện.
Linh hướng: Cha Giuse Vũ Ngọc Bích.
Quản lý: Cha Phanxicô Nguyễn Quốc Khánh.

Từ năm 1989 – 2003
Giám đốc: Đức cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Sang (1989-1990); đức hồng y Phaolô Phạm Đình Tụng.
Phó giám đốc: Cha Gioan Đỗ Tông, đức cha Phaolô Lê Đắc Trọng, cha Giuse Đặng Đức Ngân.
Giám học: Cha Giuse Đích Nguyễn Ngọc Oánh, cha Giuse Đặng Đức Ngân (2000 - 2002), cha Laurensô Chu Văn Minh (2002-2003).
Linh hướng: Đức tổng giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, cha Giuse Vũ Ngọc Bích, cha Giuse Phạm Gia Thụy, cha Giuse Phan Thiện Ân.
Quản lý: Cha Phanxicô Nguyễn Quốc Khánh, cha Giuse Nguyễn Khắc Quế và cha Tôma Aquinô Nguyễn Xuân Thuỷ.

Từ năm 2003 – 2005
Giám đốc: Đức tổng giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt.
Phó giám đốc: Đức cha Phaolô Lê Đắc Trọng, cha Laurensô Chu Văn Minh.
Giám học: Cha Laurensô Chu Văn Minh.
Linh hướng: Cha Giuse Phan Thiện Ân.
Quản lý: Cha Tôma Aquinô Nguyễn Xuân Thủy và cha Giuse Đào Hữu Thọ.

Từ năm 2005 đến nay 
Giám đốc: Cha Laurensô Chu Văn Minh.
Phó giám đốc: Cha Giuse Nguyễn Văn Diễm, cha Giuse Vũ Tất.
Giám học: cha Giuse Phạm Ngọc Khuê, rồi cha Phêrô Đặng Xuân Thành và cha Giuse Dương Hữu Tình (từ năm 2008).
Linh hướng: Cha Giuse Phan Thiện Ân và cha Cosma Hoàng Văn Đạt, rồi cha Micae Nguyễn Hữu Thu và cha Vinh-sơn Phạm Đình Khoan.
Đặc trách sinh hoạt: Cha Giuse Nguyễn Chấn Hưng (từ năm 2007).
Quản Lý : Cha Giuse Trần Viết Tiềm và cha Giuse Đỗ Mạnh Thái (từ năm 2009)

MỘT VÀI ĐỊNH HƯỚNG MỚI CHO NHỮNG NĂM SẮP TỚI
Nhằm đưa Đại Chủng Viện Hà Nội lên một tầm cao mới, cùng với các đại chủng viện khác tại Việt Nam, có thể đáp ứng những nhu cầu ngày càng nhiều và ngày càng phức tạp của Giáo Hội và xã hội, Ban Đào Tạo của Đại Chủng Viện đã tìm cách một đàng thiết lập nền móng cho mọi khía cạnh đào tạo, một đàng củng cố nền móng ấy bằng cách nâng cao, mở rộng hay đào sâu thêm.

- Thiết lập và củng cố nền móng cho việc đào tạo tâm linh bằng một năm tu đức cho các chủng sinh mới bước vào Đại Chủng Viện để các chủng sinh có được những nhận thức và tập quán tâm linh hết sức căn bản ; cao điểm của năm ấy là tháng tu đức, trong đó có tuần Linh Thao căn bản theo phương pháp thánh Inhaxiô ; đang nỗ lực tiến tới chỗ có đủ linh mục linh hướng ít là cho mỗi khối : khối tu đức, khối triết học, khối thần học căn bản và khối thần học sau cùng.

- Thiết lập và củng cố nền móng cho việc đào tạo mục vụ bằng cách tập cho chủng sinh biết quan sát và phân tích nhu cầu, biết chuẩn bị mình để đáp ứng và trên hết biết đồng cảm bằng một tâm hồn mục tử, trước khi tiến hành thử những hoạt động mục vụ cho các môi trường khác nhau, đồng thời biết lượng giá các nỗ lực mục vụ của mình cách trung thực, nhưng vẫn không quên giới hạn các hoạt động mục vụ do tính chất riêng của những năm đào tạo tại chủng viện.

- Thiết lập và củng cố nền móng cho việc đào tạo tri thức trước hết bằng cách tái lập lại trật tự trong chương trình học tập cho có hệ thống hợp lý và đồng điệu với chương trình học tập của các đại chủng viện khác tại Việt Nam, kế đó bằng cách nâng cao trình độ tri thức với đội ngũ giảng viên có năng lực hơn, với nội dung môn học cập nhật hơn và với phương pháp học tập tiến bộ hơn, có sự hỗ trợ là các sinh hoạt ngoại khóa như tăng cường các khóa học Anh Ngữ, sinh hoạt của câu lạc bộ dịch thuật, thuyết trình về một số đề tài như tìm hiểu các văn kiện mới nhất của Tòa Thánh, trình chiếu có bình luận các bộ phim tôn giáo giá trị, không kể việc cải tiến thư viện.

- Thiết lập và củng cố nền móng cho việc đào tạo nhân bản bằng cách bố trí các linh mục đồng hành với các chủng sinh mỗi lớp, tạo thêm cơ hội cho các sinh hoạt đạo đức mỗi lớp (thánh lễ và suy niệm theo lớp mỗi thứ sáu), trả lại quyền tự quản các sinh hoạt lớp và nhà trường cho các tổ và các lớp, gia tăng sự tự giác của mỗi chủng sinh về trật tự và kỷ luật trong chủng viện.

Tất cả những hướng đi này sẽ được thực hiện kết quả hơn, nếu có sự đồng thuận của mọi người trong Ban Đào Tạo và nhất là nếu có sự nhận thức đồng đều về ý nghĩa và tầm quan trọng của việc đào tạo. Ngoài ra, thiết lập được một Văn Phòng làm việc một cách khoa học và xuyên suốt hơn sẽ giúp không những quản lý các tư liệu cách chặt chẽ hơn, mà còn điều hành các sinh hoạt trong chủng viện cách nhịp nhàng hơn.

Tất cả đều nhằm đào tạo các mục tử càng ngày càng đúng như lòng Chúa mong ước và như lòng Mẹ Giáo Hộïi chờ đợi. 

Một số thư mục tham khảo
*Kỷ yếu các khóa: III, V, VI, VIII của Đại Chủng Viện Thánh Giuse Hà Nội.
*Lm. Bùi Đức Sinh-Op, Giáo hội Công giáo ở Việt Nam, Calgary-Canada 2002.
*Lm. Trần Phúc Long, 25 Giáo phận Việt Nam-Tập III, Costa Mesa, CA 92626, USA.
*Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Lịch sử địa phận Hà Nội 1626-1954, Paris 1994.
*Bản đề cương việc đào tạo tri thức tại Đại chủng viện thánh Giuse Hà Nội từ niên khóa 2008-2009.

Cập nhật và bổ sung bài viết của Ban Giám Đốc ĐCV Hà Nội ngày 20.12.2008
Ban Giám Đốc ĐCV Hà Nội (Theo Nhà Chung số 7)


DÒNG TÊN VIỆT NAM

1. Nguồn gốc Hội Dòng
Thiên Chúa, nguồn gốc của mọi điều thiện hảo, đã ban cho Giáo Hội một đặc sủng ngang qua một con người - thánh I-nhã Loyola - và một nhóm người, nhóm bạn đầu tiên cùng chí hướng của thánh I-nhã. Sau khi được ơn hoán cải ở tuổi 30, thánh I-nhã (Ignace de Loyola, 1491-1556) đã quyết tâm phục vụ Đức Kitô. Ngài đã có nhiều kinh nghiệm thiêng liêng đặc biệt mà sau này được đúc kết thành tập sách nhỏ Linh Thao. Trong thời gian học ở đại học Paris, I-nhã đã quy tụ được một nhóm bạn cùng chí hướng qua việc hướng dẫn Linh Thao cho từng người. Trong số đó, có thánh Phanxicô Xaviê và chân phước Phêrô Favre.

Ngày 15.8.1534, nhóm bạn của I-nhã đã cam kết sống chung với nhau trong một cộng đoàn, khấn khó nghèo, làm việc tông đồ và đi hành hương Đất Thánh. Lúc đó, nhóm không có tên, không có luật, không ai có quyền trên ai. Họ chỉ liên kết với nhau vì chia sẻ cùng một lý tưởng tông đồ và sống tình bạn thiêng liêng. Năm 1537, cả nhóm đã tụ họp về Venezia để chuẩn bị đi hành hương Thánh Địa. Trong thời gian chờ đợi đi Đất Thánh, họ chia ra từng nhóm nhỏ đi phục vụ, dưới danh nghĩa là nhóm bạn đồng hành của Chúa Giêsu, gọi tắt là Đoàn Giêsu.

Do không thể đi Thánh Địa vì có chiến tranh, cả nhóm quyết định đi Roma vào cuối năm 1537 để đặt mình dưới sự hướng dẫn trực tiếp của vị thủ lãnh Giáo Hội hầu được sai đi bất cứ nơi đâu trên thế giới để phục vụ các linh hồn. Mùa Chay năm 1539, họ gặp nhau nhiều lần để cùng phân định hướng đi cho tương lai: hoặc mỗi người đi theo con đường của mình như đã được Đức Giáo Hoàng chỉ định, hoặc tự ràng buộc với nhau để trở thành một nhóm bạn vĩnh viễn. Cuối cùng, họ quyết định liên kết với nhau qua lời khấn vâng phục một người trong nhóm và trở thành một dòng tu để hỗ trợ nhau trong sứ mạng phục vụ Đức Kitô.

Ngày 27.9.1540, ĐGH Phaolô III chính thức công bố trọng sắc Regimini Militantis Ecclesiae phê chuẩn Đoàn Giêsu thành một dòng tu giáo sĩ trong Hội Thánh. Từ đó Đoàn Giêsu trở thành Dòng Chúa Giêsu (The Society of Jesus - ở Việt Nam quen gọi là Dòng Tên, vì muốn kính Tên cực trọng Giêsu). Mười thành viên trong dòng tu mới lập đều nhất trí bầu cha I-nhã làm Bề trên Tổng Quyền tiên khởi (1540-1556).

2. Tiểu sử vị sáng lập Dòng Tên – Thánh I-nhã, thành Loyola
Thánh I-nhã sinh năm 1491 tại lâu đài Loyola, tỉnh Guipuzcoa, miền Bắc Tây Ban Nha. Ngài thuộc gia đình quý tộc, được huấn luyện để trở thành hiệp sĩ. Năm 1521, ngài bị thương trong trận chiến tại Pamplona. Trong thời gian dưỡng thương, ngài được ơn hoán cải và quyết tâm noi gương các thánh phục vụ Đức Kitô. Sau đó, ngài đã đến Manresa tĩnh tâm một năm trước khi đi hành hương Thánh Địa Giêrusalem. Đây cũng là thời gian ngài được những kinh nghiệm thiêng liêng đặc biệt, nhờ đó ngài khởi sự soạn thảo tập sách nhỏ Linh Thao.

Sau khi hành hương về, trong thời gian 1524-1527, khi học ở Barcelona và Acalá, ngài thường giúp người khác về đời sống thiêng liêng bằng chính kinh nghiệm của mình. Ngài đã từng bị bắt giam mấy lần và bị cấm giảng đạo, vì ngài chưa học đầy đủ. Năm 1528, ngài lên Paris học để mong được tiếp tục giúp các linh hồn. Tại Paris, I-nhã đã quy tụ được một nhóm bạn sinh viên cùng chí hướng qua việc hướng dẫn Linh Thao cho từng người. 

Ngày 15.8.1534, I-nhã cùng với các bạn trong nhóm đã khấn khó nghèo, đi hành hương Thánh Địa và phục vụ tha nhân sau khi hành hương. Ngày 24.06.1537, I-nhã được thụ phong linh mục cùng với năm người bạn khác, trong đó có thánh Phanxicô Xaviê.

Tháng 11.1537, trên đường từ Vicenza đến Rôma đặt mình dưới chân Đức Giáo Hoàng để được ngài sai đi, khi vào cầu nguyện trong một ngôi nhà nguyện nhỏ ở La Storta, thánh I-nhã đã được Chúa ban ơn soi sáng đặc biệt và mãnh liệt là “được Chúa Cha đặt với Chúa Con” để phục vụ Đức Kitô. Kinh nghiệm thiêng liêng này chính là nền tảng của đặc sủng Dòng Tên.

Năm 1539, sau nhiều lần cầu nguyện và phân định thiêng liêng chung, I-nhã và các bạn đi đến quyết định liên kết với nhau trở thành một dòng tu mang tên Chúa Giêsu. Năm 1540, I-nhã được các bạn bầu làm Bề trên Tổng Quyền tiên khởi của Dòng. Từ năm 1541–1550, thánh I-nhã đã soạn thảo Hiến Luật của Dòng.

Ngày 31.07.1556, thánh I-nhã qua đời tại Rôma, sau 15 năm làm Bề Trên Tổng Quyền Dòng Tên.

Ngày 12.03.1662, I-nhã được Đức Thánh Cha Grêgôriô XV tuyên thánh cùng với Phanxicô Xaviê.

3. Lịch sử Hội Dòng:
* Trên thế giới
Sau khi được chuẩn nhận để trở thành Dòng tu, các Giêsu hữu (tên gọi của tu sĩ Dòng Tên) đầu tiên đã hăng say phục vụ Giáo Hội trong khắp Châu Âu. Thánh Phanxicô Xaviê được sai đi truyền giáo tận Châu Á. Sau 16 năm, số tu sĩ đã tăng từ 10 lên 1000 người. Các Giêsu hữu dấn thân trong mọi lãnh vực để phục vụ: giáo dục, suy tư thần học, tham gia Công đồng Trentô, giúp Linh thao và giảng thuyết. Các Giêsu hữu cũng được sai đi khắp nơi trên thế giới để loan báo Tin Mừng: đến Châu Á (từ 1542), Châu Phi (1548), đến Nam Mỹ (1552), và Bắc Mỹ (1639). Một nét đặc biệt trong công cuộc loan báo Tin Mừng của các Giêsu hữu ở Châu Á đó là việc hội nhập văn hoá: ở Ấn Độ do Roberto de Nobili, ở Trung Hoa do Mateo Ricci, ở Việt Nam do Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ).

Từ giữa thế kỷ XVII, Dòng Tên đã gặt hái nhiều thành quả trong sứ mạng phục vụ, nhưng cũng gặp nhiều chống đối. Sự chống đối đến từ các chính quyền ở Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, do mất quyền lợi từ các thuộc địa có các thừa sai Dòng Tên đến truyền giáo và nâng cao dân trí; ở các quốc gia theo trào lưu Tin Lành lúc bấy giờ; ở Châu Á do sự nghi kỵ các thừa sai. Năm 1773, trước sức ép nặng nề của các chính quyền ác cảm với Dòng Tên, ĐGH Clementê XIV ra đoản sắc Dominus ac Redemptor giải thể Dòng trên toàn thế giới. Tuy nhiên, hoàng đế nước Phổ Frederick II và nữ hoàng Nga Catherina I đã cho phép Dòng Tên tiếp tục hoạt động ở Phổ và Nga.

Ngày 07.08.1814, ĐGH Piô VII ra trọng sắc Sollicitudo omnium Ecclesiarum tái lập Dòng Tên. Dòng Tên bắt đầu hồi sinh, tiếp tục phục vụ trong các hoạt động giáo dục, truyền giáo và hướng dẫn thiêng liêng.

Hiện nay (2009), Dòng có 18.516 tu sĩ, phục vụ tại 133 quốc gia và lãnh thổ trên thế giới. Các tu sĩ của Dòng có mặt trong hầu hết các hoạt động của Giáo Hội (suy tư thần học, giảng thuyết, mục vụ giới trẻ, giúp Linh thao, truyền giáo…) cũng như của xã hội (giáo dục, truyền thông, phục vụ người tị nạn và di dân,…) nhằm phục vụ và thăng tiến con người. Họ là các thần học gia, các vị linh hướng, giáo sư, kỹ sư, nhạc sĩ, nhân viên xã hội, tâm lý gia, bác sĩ, luật sư, nhà báo, nhà truyền giáo...

* Tại Việt Nam
Tháng 01 năm 1615, ba Giêsu hữu đầu tiên đã đặt chân đến Cửa Hàn, Đà Nẵng thuộc Đàng Trong. Ngày lễ Thánh Giuse năm 1627, Cha Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) cùng với Cha Pedro Marquez đến Cửa Bạng (Thanh Hóa) gây dựng Hội Thánh Đàng Ngoài.

Trong thời gian 1615-1773, trên 155 tu sĩ của Dòng thuộc 20 quốc tịch (nhiều nhất là Bồ Đào Nha) đã đến loan Tin Mừng trên Đất Việt, cùng với 33 Giêsu hữu người Việt. Trong số đó, có 12 Giêsu hữu đã làm việc trong Thái Y Viện và Khâm Thiên Giám duới triều các Chúa Nguyễn.

Năm 1773, Dòng Tên bị giải thể trên toàn thế giới, và các Giêsu hữu ở Việt Nam cũng theo số phận chung với anh em mình trong toàn Giáo Hội.
Ngày 07.08.1814, ĐGH Piô VII ra trọng sắc Sollicitudo omnium Ecclesiarum tái lập Dòng Tên trên toàn giới. Mãi đến năm 1957, Dòng Tên mới trở lại Việt Nam. Tháng 12 năm 1956, cha Bề Trên Tổng Quyền đã yêu cầu các Giêsu hữu đã bị chính quyền Trung Hoa trục xuất (năm 1949) nhận trách nhiệm lập cơ sở mới phục vụ Giáo Hội tại Việt Nam. Tháng 4 năm 1957, cha Oñate và cha Georges Germain tới Sài Gòn để thực hiện chương trình này. Khi Dòng trở lại Việt Nam, cộng đoàn đầu tiên được thành lập tại số 161 đường Yên Đỗ, Quận 3, Sàigòn. Đó là cộng đoàn thánh I-nhã, sau này là trung tâm Đắc Lộ. Sau gần hai thế kỷ vắng bóng trên đất Việt, các Giêsu hữu đã trở lại phục vụ Giáo Hội tại Việt Nam.

Từ 1957–1975, các Giêsu hữu – thuộc 14 quốc tịch khác nhau – đã phục vụ trong các sứ vụ: giảng dạy tại Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X tại Đà Lạt để đào tạo Linh mục cho Giáo Hội Việt Nam, giảng dạy tại các đại học, truyền thông xã hội, mục vụ cho sinh viên và giới trẻ.

Từ 1975–1990, hoàn cảnh đất nước đổi thay, như các anh chị em tu sĩ khác, Dòng Tên phải đối diện với những khó khăn và thách đố khi trung thành sống căn tính của mình. Trong thời gian này, các Giêsu hữu âm thầm hòa mình vào nhiều môi trường xã hội khác nhau để tiếp tục hiện diện và phục vụ Hội Thánh và con người trong bối cảnh mới của đất nước.

Từ 1991, Dòng Tên bắt đầu hồi sinh. Các hoạt động mục vụ của Dòng từ từ được định hình trở lại với các sinh hoạt: giúp Linh Thao, mục vụ giáo xứ, sinh viên và giới trẻ, truyền giáo... Ơn gọi mới của Dòng mỗi ngày một nhiều hơn. Ngày 14.07.2007, Miền Dòng Tên Việt Nam được chính thức nâng lên thành Tỉnh Dòng Tên Việt Nam, với bổn mạng là Thánh Phanxicô Xaviê.

4. Đặc sủng Hội Dòng
Bước theo Chúa Giêsu vác thánh giá, trung thành với Giáo Hội và sẵn sàng để được vị đại diện của Người là Đức Giáo Hoàng sai đi đến bất cứ nơi nào, làm bất cứ việc gì theo các giá trị Tin Mừng nhằm Tôn Vinh Thiên Chúa Hơn và giúp ích cho con người hôm nay hơn, theo tinh thần chiêm niệm trong hoạt động.

5. Linh đạo Hội Dòng
Linh đạo Dòng Tên được đặt trên nền tảng linh đạo của Thánh I-nhã và Hiến Luật của Dòng. Dựa trên những kinh nghiệm thiêng liêng thần bí được đúc kết trong tập Linh Thao, sách Tự Thuật và Nhật Ký Thiêng Liêng, thánh I-nhã đã chia sẻ với Giáo Hội một linh đạo lấy Đức Giêsu Kitô làm trung tâm cho cuộc sống, với lòng ao ước được hiểu biết Chúa hơn, yêu mến Chúa hơn và bước theo sát Chúa hơn. Cùng bước theo Chúa Giêsu vác thánh giá để thi hành thánh ý của Chúa Cha, thánh I-nhã đã chia sẻ với mọi người cách thức thực hành việc phân định thiêng liêng để khám phá lời mời gọi yêu thương của Thiên Chúa dành cho mỗi người và quảng đại đáp lại lời mời gọi ấy trong từng giây phút của cuộc sống thường ngày.

Lối sống và cung cách hành xử của các Giêsu hữu thấm nhuần linh đạo của thánh I-nhã qua những kinh nghiệm thiêng liêng của Linh Thao, và được hướng dẫn bởi Hiến Luật của Dòng. Chính tình yêu cá vị đối với Thiên Chúa và cụ thể đối với Đức Giêsu Kitô – Ngôi Lời nhập thể – là nền tảng thúc đẩy từng Giêsu hữu khám phá sự hiện diện và lời mời gọi của Thiên Chúa trong mọi người và trong mọi hoàn cảnh, thúc đẩy từng Giêsu hữu cùng với Đức Kitô lao tác để làm tất cả mọi sự cho Vinh Danh Chúa Hơn trong phân định thiêng liêng, nhằm giúp đỡ các linh hồn qua các sứ vụ khác nhau.

Chính lòng khao khát muốn nên giống Đức Giêsu vác thập giá trong mọi sự và muốn cùng với Đức Giêsu Kitô lao tác đã làm cho các Giêsu hữu trở nên những người bạn trong Đức Kitô, và nối kết họ thành một thân thể tông đồ với đức vâng phục làm nền tảng - vâng phục Đức Giáo Hoàng, Bề Trên Tổng Quyền và các Bề Trên hợp pháp - với cùng một cảm thức với Giáo Hội để luôn tìm điều hơn (magis) cho Vinh Danh Chúa, để phục vụ Giáo Hội và mang ích lợi cho con người.

Phục vụ đức tin nối kết với thăng tiến công bình của Nước Thiên Chúa trong đối thoại với các nền văn hoá và các tôn giáo khác. Trong bối cảnh của một thế giới đang bị ảnh hưởng bởi trào lưu toàn cầu hóa, dẫn tới gia tăng những mâu thuẫn và xung đột, sứ mạng này được thực hiện ngang qua nhiều sứ vụ như giảng Linh Thao, tông đồ xã hội, mục vụ giới trẻ, suy tư và giảng dạy thần học, truyền thông… nhằm thiết lập những nhịp cầu hòa giải giữa con người với Thiên Chúa, giữa con người với nhau và với môi trường thiên nhiên.

8. Bổn Mạng Tỉnh Dòng Việt Nam: 
Thánh Phanxicô Xaviê – Kính ngày 03 tháng 12

9. Địa chỉ trụ sở chính tại Việt Nam
Số 19 Đường số 5, Khu Phố 2, Phường Linh Trung, Quận Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh
ĐT: (08) 3897-9197 – Fax: (08) 3720-3252

10. Bề Trên đương nhiệm:
- Bề Trên Tổng Quyền Dòng Tên: Cha Adolfo Nicolás, S.J. (2008 - nay)
- Bề Trên Giám Tỉnh Dòng Tên Việt Nam: Cha Giuse Phạm Thanh Liêm S.J. (2010 - nay)

11. Các hoạt động tại Việt Nam:

  • Giảng Linh Thao 
  • Mục vụ giáo xứ 
  • Sinh hoạt giới trẻ 
  • Suy tư và giảng dạy thần học
  • Tông đồ xã hội 
  • Truyền giáo 
  • Hướng Dẫn Học Lời Chúa, Tĩnh Tâm và Linh Thao 
  • Mục Vụ Truyền giáo cho đồng bào dân tộc vùng cao
  • Mục Vụ Sinh Viên, Mục Vụ Công Nhân Di Dân

12. Số cộng đoàn: 10 cộng đoàn

13. Nhân sự: 

  • Tổng số (Tính từ tập sinh): 180
  • Linh mục: 48
  • Học viên: 62
  • Tu huynh: 18
  • Tập sinh: 37

Trong đó:

  • Khấn lần đầu: 98
  • Khấn cuối: 34
  • Số ứng sinh: 140

14. Điều kiện gia nhập:
- Nam.
- Tuổi từ 20 – 26.
- Trình độ văn hoá: Tốt nghiệp Đại học.
- Sức khoẻ tốt.

15. Địa chỉ liên lạc về ơn gọi:
Nhà Thờ Thiên Thần, 600 Xa lộ Hà Nội, Khu Phố 4, Phường An Phú, Quận 2, TP. Hồ Chí Minh
ĐT: (08) 3744-4766

16. Khả năng cộng tác về chuyên môn của Hội Dòng trong công việc phục vụ chung: 
Đào tạo tác viên Tin Mừng, giáo lý viên, người hướng dẫn Linh Thao, đồng hành thiêng liêng,...


Hướng đến ngày cầu cho ơn gọi, được hiểu là ngày cầu cho ơn gọi Linh mục - Tu sĩ. Méo gởi đến cả nhà một vài chia sẻ và cũng là thắc mắc của nhiều bạn về ơn Thiên triệu! 
(Ps: trích dẫn từ trang web của dòng Phan sinh thừa sai Đức mẹ - fmmvn.net)

1. Các linh mục và các tu sĩ nam nữ làm gì suốt ngày?
Cũng như đa số người lớn, họ dành thời gian để làm việc hằng ngày. Họ gọi công việc là bổn phận kiểu mẫu và động cơ vì Chúa Giêsu, Đấng yêu cầu họ noi gương Ngài phục vụ Dân Chúa. Nhưng họ không chỉ làm việc! Để sống lành mạnh và cân bằng, hãy cố gắng cầu nguyện bằng nhiều cách. Cầu nguyện, nhiệm vụ và vai trò là 3 cách giúp họ sống lành mạnh để có thể phục vụ hiệu quả và vui sống.

Trong lĩnh vực nhiệm vụ hoặc chức vụ, nhiều linh mục và tu sĩ có nghề chính – như dạy học, phục vụ giáo xứ, hoạt động xã hội, hoặc làm việc trong bệnh viện. Thời khóa biểu hằng ngày có thể khác so với người khác. Họ thường hội họp vào buổi tối, linh mục xứ thường làm việc vào các ngày thứ Bảy và Chúa Nhật, đồng thời dành một số thời gian nghỉ ngơi trong tuần.

Nhu cầu không thể biết trước cũng làm cho cuộc sống phong phú. Điều trung tâm này thường thỏa mãn nhu cầu của con người, dù đó là học sinh, gia đình chuẩn bị cử hành các bí tích, hoặc bệnh nhân, người lớn, người tức giận, người bị thương, người đói, hoặc tù nhân. Họ cố gắng chia sẻ cuộc sống với người khác và khám phá Đức Kitô trong công việc.

Những người là thành viên của các dòng chiêm niệm (chuyên cầu nguyện) hằng ngày kết hợp công việc, cầu nguyện, và nghỉ ngơi. Sự khác biệt là họ dành nhiều thời gian để cầu nguyện hơn các tu sĩ và linh mục khác. Đôi khi họ tự trồng cây làm lương thực và sản xuất thứ gì đó để kiếm thu nhập – có thể là làm bánh lễ, làm nến, làm ảnh tượng, làm rượu lễ, đóng sách,... Việc cầu nguyện của họ thường là Thánh Lễ, cầu nguyện riêng (gọi là chiêm niệm), đọc sách thiêng liêng, và những giờ kinh nhật tụng (kinh của Giáo Hội, chủ yếu là Lời Chúa, Thánh Thi và Thánh Vịnh).

2. Cầu nguyện quan trọng thế nào trong cuộc sống?
Vì họ đã chọn đời sống tu trì, sống theo lời khuyên Phúc Âm, việc cầu nguyện phải là trung tâm của đời sống của họ. Hãy nghĩ về việc kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, giống như việc giao tiếp xảy ra giữa hai người yêu nhau. Mối quan hệ giữa họ với Thiên Chúa phải phát triển sâu sắc qua việc cầu nguyện.

Vì cầu nguyện là việc quan trọng, nhiều linh mục và tu sĩ dành khoảng hai giờ (hoặc hơn) để cầu nguyện mỗi ngày. Điều quan trọng là việc tham dự Thánh Lễ hằng ngày. Họ cũng có những dạng cầu nguyện chính thức khác như kinh Phụng vụ và lần Chuỗi Mân Côi, hoặc đọc sách thiêng liêng và đọc Kinh Thánh. Họ cũng có những giờ cầu nguyện riêng, có thể là đọc sách đạo đức hoặc thinh lặng trước mặt Chúa. Một trong các hiệu quả của việc cầu nguyện là giúp họ nhận biết hoạt động của Chúa qua con người, các sự kiện, và đời sống hằng ngày.

3. Cầu nguyện có dễ đối với bạn?
Không phải lúc nào cũng dễ đâu! Ngay cả những người sống đời tu chiêm niệm cũng có lúc cảm thấy “nguội lạnh” khi giờ cầu nguyện có vẻ đơn điệu hoặc quá bình thường. Khi chúng ta có kinh nghiệm cầu nguyện, chúng ta sẽ biết cách điều chỉnh những thay đổi. Chúng ta thường phụ thuộc vào sự nâng đỡ của cộng đoàn hoặc vị linh hướng (như huấn luyện viên vậy) sẽ giúp chúng ta vẫn giữ cầu nguyện trong những lúc khó khăn. Hãy cố gắng và đừng cảm thấy phụ thuộc bất cứ thứ gì.

4. Điều gì khác nhau giữa linh mục triều (linh mục giáo phận) và linh mục dòng?
Thông thường, linh mục triều phục vụ Giáo Hội trong phạm vi giáo phận của mình, thường là các giáo dân ở các giáo xứ, nhưng cũng có thể liên quan nhiều dạng khác như dạy học, làm y bác sĩ, làm tuyên úy,...

Linh mục dòng thường vượt qua giới hạn giáo phận. Họ sống khó nghèo, độc thân, và vâng lời giữa cộng đoàn. Cộng đoàn chia sẻ chung về quan điểm, tâm linh, và thường nhấn mạnh một dạng nhiệm vụ nào đó.

5. Điều gì khác nhau giữa tu sĩ và linh mục?
Tu sĩ là tín hữu tận hiến cho Đức Kitô qua lời khấn khó nhèo, khiết tịnh, và vâng lời. Tu sĩ sống trong cộng đoàn và làm việc phù hợp với khả năng. Họ có thể là giáo viên, nấu ăn, luật sư, kỹ thuật viên, giúp xứ,... Họ cố gắng sống đức tin bằng cách là huynh đệ của mọi người.

Linh mục là tín hữu được giao sứ vụ cử hành các bí tích Thánh Thể, Rửa tội và Hôn phối, đồng thời đem Chúa đến với mọi người qua các bí tích Hòa giải và Xức dầu. Linh mục cũng làm nhiều việc khác nhau – thường xuyên nhất là những việc liên quan giáo xứ – nhưng đời sống bí tích phải là đặc vụ. 

6. Các dòng tu khác nhau thế nào?
Mỗi hội dòng có một đặc sủng, một cách riêng phục vụ Giáo Hội, giúp họ tập trung vào việc hoàn tất sứ vụ trong cộng đoàn. Sứ vụ này có thể là cầu nguyện trong tu viện, cũng có thể là hoạt động nhằm hợp tác với tha nhân.

Nhiều hội dòng chuyên về công việc trí tuệ hoặc công việc bình thường, nhưng mỗi dòng đều có điểm khác nhau. Nhiều dòng nam và nữ được thành lập trong thời gian việc đi lại và giao tiếp bị hạn chế. Một số dòng được thành lập vì mục đích riêng.

Ngày nay, các cộng đoàn mới vẫn tiếp tục hình thành để đáp lại tiếng Chúa mời gọi người ta đạt tới dạng nào đó thuộc tâm linh, cộng đoàn, và sứ vụ.

7. Phải mất bao lâu để trở nên linh mục?
Nói chung, phải qua ít nhất 3 năm triết học và 4 năm thần học. Các chủng sinh học ở các đại chủng viện, các tu sĩ học ở các học viện, riêng của dòng hoạc liên dòng.

8. Bạn gia nhập cộng đoàn tu thế nào?
Quá trình gia nhập cộng đoàn tu phải mất một thời gian và qua vài giai đoạn. Thời gian có thể lâu hay mau, tùy dòng, cơ bản là:

Liên lạc: Người quan tâm đời sống tu trì cần tìm hiểu xem Ý Chúa muốn gì nơi mình. Họ có thể tham gia chương trình tìm hiểu ơn gọi ở một dòng nào đó. Chương trình đào tạo thường linh động. Hằng tháng, họ thường gặp một linh mục hoặc một tu sĩ, được chia sẻ về kinh nghiệm cầu nguyện và đời sống cộng đoàn.

Ứng sinh: Thời gian này giúp họ có thể tham dự vào đời sống cộng đoàn. Họ phải thể hiện sự quan tâm và và được cộng đoàn chấp nhận là thành viên trong quá trình tham gia. Ứng viên sống trong cộng đoàn khi vẫn tiếp tục học tập và làm việc. Giai đoạn này cũng giúp cộng đoàn nhận xét xem ứng viên có thể sống đời sống chung hay không. Thời gian có thể kéo dài 1 tới 2 năm.

Tập sinh: Vào nhà tập là giai đoạn kế tiếp trong chương trình đào tạo. Giai đoạn này có thể là 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm để chuẩn bị chính thức bước vào đời sống cộng đoàn.
Vào nhà tập là thời gian học hỏi và cầu nguyện để biết thêm về chính mình, về cộng đoàn, và mối quan hệ với Chúa Giêsu. Cuối thời gian tập, các tập sinh chuẩn bị tiên khấn (sơ khấn, khấn lần đầu, khấn tạm).

Khấn sinh: Ba lời khấn vâng lời, khó nghèo, và khiết tịnh (thanh tuân, thanh bần, thanh khiết) có thể cho thời gian 1 năm, 2 năm hoặc 3 năm, tùy quy định mỗi dòng. Các lời khấn này có thể được khấn lại hằng năm. Thời gian khấn tạm thường là 3 năm, sau đó là vĩnh khấn (khấn trọn đời).
Tu sĩ nào được học làm linh mục cũng phải trải qua thời gian đào tạo như các chủng sinh. Ngoài triết học và thần học, các ứng viên còn được đào tạo về Kinh Thánh, các Giáo huấn của Giáo Hội, các kỹ năng cần thiết cho sứ vụ linh mục.

9. Các linh mục và các tu sĩ nam nữ thề hứa điều gì?
Các tu sĩ và linh mục dòng khấn ba lời khấn, một số dòng còn thêm 1 hoặc 2 lời khấn khác nữa. Có ba lời khấn phổ biến nhất:

Nghèo khó – Mọi thứ là của chung, sống giản dị, và nhận biết mình lệ thuộc vào Thiên Chúa.

Khiết tịnh – Yêu mến Chúa, phụng sự Chúa và phục vụ mọi người, chứ không yêu người khác. Sống độc thân để minh chứng tình yêu dành cho Thiên Chúa.

Tuân phục – Sống đời sống cộng đoàn, cố gắng lắng nghe và làm theo Ý Chúa bằng cách tham dự vào mọi sinh hoạt của cộng đoàn.

10. Linh mục triều thề hứa điều gì?
Linh mục triều khấn giữ khiết tịnh và vâng lời giám mục (đấng bản quyền). Họ không khấn khó nghèo, nhưng họ vẫn phải cố gắng sống giải dị để có thể phụng sự Thiên Chúa qua việc phục vụ mọi người.

11. Linh mục và tu sĩ có thể hò hẹn?
Không thể hò hẹn yêu đương, vì mối quan hệ này sẽ dẫn tới hôn nhân, mà khấn độc thân nghĩa là không được kết hôn. Tuy nhiên, ai cũng cần có tình bạn trong sáng, những mối quan hệ cần thiết, dù là đối với nam hoặc nữ.

12. Các tu sỹ có bao giờ bị người khác phái hấp dẫn?
Dĩ nhiên vẫn có! Họ vẫn có những mối quan hệ bình thường, những cảm giác và những ước muốn. Họ chọn đời sống độc thân là hướng cảm xúc của họ vào chiều hướng tốt lành. Họ phải cố gắng trung thành với lời khấn khiết tịnh qua việc cầu nguyện, kết hiệp với Đức Kitô, những tình bạn tốt đẹp,...

13. Nếu bạn yêu thì sao?
Trách nhiệm cơ bản trong tình trạng như vậy là duy trì lời khấn của một tu sĩ hoặc linh mục. Cố gắng phát triển mối quan hệ trong giới hạn và trách nhiệm của lời khấn khiết tịnh.

Dĩ nhiên, việc “phải lòng người khác phái” là tình huống khó khăn đối với tu sĩ hoặc linh mục. Chúng ta biết rằng các Kitô hữu vẫn phải đối mặt với những nỗi đau khổ và sự khó khăn trong cuộc sống. Không dễ để trở thành người vợ hoặc người chồng chung thủy, hoặc một người độc thân. Việc xử lý thách đố này giúp người ta mạnh mẽ hơn trong ơn gọi của mình.

14. Bạn có phải là người trinh tiết để làm linh mục hoặc tu sĩ?
Đây là câu hỏi phổ biến trong giới trẻ. Hoạt động tình dục trong quá khứ không ngăn cản người ta trở thành tu sĩ hoặc linh mục. Quá khứ của một người không là trở ngại chính. Nếu vậy, nam và nữ đã từng kết hôn không thể trở thành linh mục hoặc tu sĩ. Vấn đề là người đó có sẵn sàng và có thể sống mà yêu thích đời sống độc thân khi phục vụ tha nhân hay không. Một số vị thánh lớn đã từng có chọn lựa khác trước khi rẽ vào đời sống tu trì – chẳng hạn như Thánh Augustinô và Thánh Phanxicô Assisi.

15. Tôi có thể làm linh mục hoặc tu sĩ nếu tôi có nợ riêng?
Thường thì các giáo phận và các dòng đòi hỏi ứng viên giải quyết mọi nợ nần riêng tư trước khi đi tu. Tuy nhiên, có nhiều trường hợp ngoại lệ đối với món nợ sinh viên và sẽ có chính sách đặc biệt. Nếu người đó có “lịch sử” xài hoang nên mắc nợ, nhất là liên quan thẻ tín dụng, thường thì người đó phải nghiêm túc cân nhắc mình có khả năng sống giản dị với ơn gọi tu trì hay không.

16. Tại sao một số người mặc tu phục trắng, đen, nâu, xanh,…?
Tu phục có thể giúp dễ nhận biết đó là biểu tượng đức tin vào Thiên Chúa và liên quan Kitô giáo. Tu phục nói lên sự đơn giản qua cách sống lời khấn khó nghèo. Một số cộng đoàn có tu phục chính, tu phục làm việc, tu phục đi ra ngoài, nhưng điều chính vẫn là thể hiện đức tin.
Thân!


16/04/2013
Minh Thống

Lịch sử

Dòng Chúa Cứu Thế do thánh Alphonsô Maria De Liguori thành lập ngày 09 tháng 11 năm 1732, tại đồi Scala, nước Italia ngày nay. Ngày 30.11.1925, đáp lại lời mời gọi của Thiên Chúa, ba thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế, thuộc Tỉnh Dòng thánh Anna ở Quebec, Canada đã đến Việt Nam. Suốt 85 năm hiện diện với cộng đồng các sắc tộc Việt Nam, Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam luôn trung thành với mục tiêu theo Đức Kitô Cứu Thế loan báo tin mừng cho người bị bỏ rơi hơn cả.

Năm 1923, Ðức Giám Mục thừa sai Henri Lecroart S.J. được phái sang bán đảo Ðông Dương với tư cách Khâm Sai Kinh Lý của Toà Thánh. Nhận thấy Giáo Hội Việt Nam là một Giáo Hội truyền giáo đầy triển vọng, với những cộng đoàn tín hữu sốt sắng, ơn gọi tu sĩ và linh mục dồi dào, nhưng đồng thời cũng lại là những cộng đoàn còn thiếu chiều sâu đức tin, thiếu chiều sâu đời sống nội tâm và thiếu sự sinh động tông đồ. Ðức Khâm Sai đã đề nghị Toà Thánh lưu tâm thiết lập các cơ cấu và đơn vị đảm trách việc tổ chức các kỳ đại phúc cho giới bình dân và các cuộc tĩnh tâm, cấm phòng cho hàng giáo sĩ và các tu sĩ.

Ngày 20-06-1924, trong phiên họp cứu xét báo cáo đúc kết kỳ kinh lược của Ðức Cha Henri Lecroart S.J, các thành viên Thánh Bộ Truyền Giáo đã đề nghị Ðức Hồng Y Van Rossum C.Ss.R., Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo, vận động Dòng Chúa Cứu Thế thiết lập Nhà Dòng tại Ðông Dương.

Ngày 09-11-1924, Ðức Hồng Y Van Rossum liên lạc với cha Patrick Murray, Bề Trên Tổng Quyền Dòng Chúa Cứu Thế, và đề nghị trao việc lập Dòng tại Ðông Dương cho Tỉnh Dòng Sainte-Anne-de-Beaupré, Canada. Cha Bề Trên Tổng Quyền và Hội Ðồng Cố Vấn Trung Ương đã chấp thuận đề nghị của Ðức Hồng Y Tổng Trưởng Thánh Bộ Truyền Giáo. Sau đó, cha Bề Trên Tổng Quyền yết kiến Ðức Thánh Cha Pi-ô XI để xin ngài chuẩn y.

Ngày 19-11-1924, mười ngày sau khi Ðức Hồng Y Van Rossum đề nghị với cha Patrick Murray, cha Thomas Pintal, Giám Tỉnh Tỉnh Dòng Sainte-Anne-de-Beaupré, đã trả lời với cha Bề Trên Tổng Quyền và Hội Ðồng Cố Vấn Trung Ương rằng Tỉnh Dòng Sainte-Anne hân hoan chấp nhận đảm trách nhiệm vụ thiết lập Dòng Chúa Cứu Thế tại Việt Nam.

Ngày 14-10-1925, ba vị thừa sai tiên khởi rời quê hương Canada, lên đường sang Ðông Dương thực hiện nhiệm vụ cao cả. Ðó là :

Linh mục Hubert Cousineau (1890-1964)

Linh mục Eugène Larouche (1892-1978)

Tu sĩ Thomas St-Pierre (1883-1961).

Ngày 30-11-1925, ba vị đến Huế, được Ðức Giám Mục Allys tiếp đón nồng hậu. Từ đó, Dòng Chúa Cứu Thế bắt đầu hiện diện tại Việt Nam.

Cho đến nay Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam có 281 thành viên, trong đó 173 linh mục, 2 phó tế vĩnh viễn, 9 phó tế chuyển tiếp, 30 trợ sĩ, và 63 tu sĩ đang được đào tạo triết học và thần học. Các cộng đoàn có mặt và hoạt động từ đồng bằng đến miền núi, từ Bắc chí Nam, với các ưu tiên mục vụ cụ thể bao gồm các việc Loan báo Tin Mừng, Đại phúc, Chăm lo cho các nạn nhân của xã hội hiện đại, Nỗ lực cho công lý và hoà bình, và Truyền thông xã hội.

Linh Đạo

Dòng Chúa Cứu Thế đã được Thánh Anphong Maria de Liguori, Giám mục tiến sĩ Hội Thánh, thành lập vào năm 1732 tại miền nam Nước Ý. Mục đích chính của Dòng là “noi gương Chúa Giêsu Kitô Cứu Thế rao giảng Lời Chúa cho người nghèo khó″ (Hiến Pháp 1). Sĩ tử DCCT đã và đang cố gắng thực hiện sứ mạng của mình dưới nhiều hình thức và trong mọi hòan cảnh. Điều làm cho các sĩ tử trong mọi thế hệ không ngừng hăng say rao giảng Lời Chúa chính là nền Linh đạo mà thánh nhân đã sống.

Linh đạo của Dòng được xoay quanh bốn điểm nổi bật chính yếu:

1. Máng cỏ (Crib)
Đối với Cha Thánh Anphong, ơn cứu độ chứa chan được khởi đi bằng mầu nhiệm Nhập Thể của Con Thiên Chúa. Sĩ tử được mời gọi để, như Đức Kitô, đi vào lòng người bằng nếp sống đơn sơ, gần gũi và nên một với người thấp cổ bé miệng. Vì thế, hình ảnh của máng cỏ năm xưa rất gần gũi với sĩ tử DCCT.

2. Thánh giá (Cross)
Sĩ tử không chỉ noi gương Đức Kitô tại làng Bêlem, mà còn gắng theo Người lên tới đỉnh Can-vê. Mầu nhiệm Thập giá nói lên khía cạnh hy sinh, đau khổ, không thể thiếu được trong việc loan báo tin mừng ‘ơn cứu độ chứa chan’. Chúa Giêsu Cứu Thế và Mầu Nhiệm Thập Giá không còn là hai, mà chỉ là một.

3. Thánh Thể (Eucharist)
Mầu nhiệm Thánh Thể nói lên Tình yêu tuyệt đối của Đức Giêsu và sự hy sinh của Người để cho muôn dân được nuôi sống. Sĩ tử DCCT cũng mong được bắt chước Thầy Cả trở nên phần nào lương thực cho mọi người, cách riêng những người nghèo khó tất bạt.

4. Đức Maria (Mary)
Chiều kích Maria không thể thiếu trong đời sống ơn gọi tận hiến, lại càng không thể vắng bóng trong sứ mạng của Dòng Chúa Cứu Thế. Từ thuở đầu, Cha Thánh Anphong đã chọn Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội làm Bổn mạng cho toàn Dòng, và phó dâng sức sống và sứ mạng tương lai của Dòng trong ban tay từ mẫu của Mẹ. Biến cố Đức Giáo Hòang Piô IX trao linh ảnh Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cho DCCT vào năm 1866 lại càng nói lên sự quan phòng diệu kỳ của Thiên Chúa và sự liên hệ chặt chẽ giữa DCCT và Đức Maria.

Đào Tạo

Ngay từ những năm đầu của lịch sử Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam, cùng với việc thiết lập Ðệ Tử Viện, Tập Viện dành cho các anh em dấn thân phục vụ Chúa Ki-tô và phục vụ người nghèo theo đặc sủng tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế đã được tổ chức. Ngày 25-03-1929, Tập Viện được quyết định thành lập với cha Hubert Cousineau làm Tập Sư. Ngày 08-12-1929, tám anh em dấn thân theo đặc sủng tu sĩ thừa sai đã mặc áo vào Tập Viện. Trong số đó, 5 người sẽ tuyên khấn ngày 08-12-1930. Từ đây vẫn đều đều có những lớp tập sinh và khấn sinh.

Trong vòng hơn 30 năm, chương trình đào tạo các tu sĩ thừa sai, về căn bản, như sau: đào tạo thực tiễn trong giai đoạn thỉnh sinh; đào tạo tại Tập Viện; sau Tập Viện, hàng tuần sẽ có các giờ thường huấn do cha tuyên úy phụ trách.

Năm 1959, vấn đề chương trình đào tạo các tu sĩ thừa sai đã được đặt ra một cách nghiêm túc. Những anh em thỉnh sinh được đào tạo trong “Dự Tu Viện” đặt tại Nha Trang do cha An-tôn Nguyễn Văn Trung làm Giám Ðốc, với một chương trình đào tạo về trí thức và kỹ thuật khá hoàn chỉnh. Ðồng thời, Tỉnh Dòng cũng tổ chức các khoá học kéo dài chừng một tháng tại Ðà Lạt cho các thầy đã khấn, với chương trình gồm các giảng khoá về Kinh Thánh và giáo lý cần thiết và phù hợp. Riêng trong năm 1966, có hai khoá học như thế được tổ chức. Tuy nhiên, các kế hoạch đào tạo này đã không được thực hiện lâu dài. Dự Tu Viện đã ngưng hoạt động từ Lễ Phục Sinh năm 1964.

Vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, một chương trình đào tạo anh em tu sĩ thừa sai được đề nghị, nhằm mục tiêu canh tân việc đào tạo và đưa ra một hướng mới cho các hoạt động của các thành viên trong Tỉnh Dòng đang và sẽ dấn thân phục vụ trong đặc sủng tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế. Chương trình đã được bắt đầu thực hiện tại Ðà Lạt. Nhưng rồi thời cuộc đã không cho phép tiếp tục.

Sau ngày Ðất Nước thống nhất, công cuộc đào tạo các tu sĩ thừa sai hầu như không thể thực thi. Thực tế, cho đến năm 1994, không có sự phân biệt trong sự hướng dẫn các anh em trẻ dấn thân theo ơn gọi tu hành trong Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam. Tại Tập Viện niên khoá 1994-1995 mới có sự xác định đặc sủng riêng của một số anh em tập sinh theo hướng dấn thân phục vụ với tư cách tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế. Từ năm 1996, công tác đào tạo anh em tu sĩ thừa sai trẻ được thực hiện tại Tu Viện Mai Thôn. Từ năm 1996, Nhà Phú Dòng trở thành nơi đào tạo Dự Tập tu sĩ thừa sai Dòng Chúa Cứu Thế, phụ trách công tác đào tạo ban đầu cho các anh em dấn thân theo đặc sủng các Thầy. Ngày 20-08-1999, Tập Viện dành riêng cho anh em theo đặc sủng tu sĩ thừa sai đã được khai mạc tại Tu Viện Mai Thôn, với 4 tập sinh. Những anh em này cũng tu luyện dưới sự hướng dẫn của cha Tập Sư An-phong Phạm Gia Thụy, theo một số giảng khoá chung với các anh em tập sinh dấn thân theo đặc sủng linh mục thừa sai.

Mãn Tập Viện, các thầy sẽ tiếp tục được đào tạo về đời tu Dòng Chúa Cứu Thế tại Nhà Học tu sĩ thừa sai, đặt tại Nhà Mai Thôn. Ngoài ra, các thầy còn có thể theo học một chương trình đào tạo đại cương về triết lý, thần học và giáo lý chung với các sư huynh La-san tại Học Viện La-san Mai Thôn. Ðồng thời các thầy cũng được tạo điều kiện để theo học các lớp chuyên môn, đặc biệt về kỹ thuật, nhằm mục tiêu phục vụ hữu hiệu trong đặc sủng mà Chúa Cứu Thế dành riêng cho các Thầy trong gia đình Dòng Chúa Cứu Thế, theo nhu cầu của Tỉnh Dòng hoặc theo đề nghị của các cộng đoàn.

Theo Hiến Pháp, những anh em dấn thân phục vụ trong Dòng Chúa Cứu Thế theo đặc sủng tu sĩ thừa sai “phải được đào tạo theo một thể thức giúp họ có thể thấm nhuần mầu nhiệm Ðức Ki-tô một cách mật thiết và có thể tham gia đời sống của Nhà Dòng, vì tất cả mọi thành viên trong Dòng đều hướng về cùng một ơn gọi thừa sai, được thực hiện theo những nhiệm vụ riêng biệt. Những anh em dấn thân theo đặc sủng tu sĩ thừa sai cũng phải làm hết sức mình để đạt tới sự thành thạo về chuyên môn và về thừa tác vụ” (số 89).

Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Việt Nam đang nỗ lực thực hiện chỉ đạo đó của Hiến Pháp. Cha Phao-lô Trần Văn Quang đang phụ trách công tác này.

Sứ vụ: Rao giảng Tin Mừng

Mục đích chính của Dòng Chúa Cứu Thế là rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô bằng các phương thức phổ biến như Ðại phúc, Cấm phòng, Tĩnh tâm. Sứ mạng rao giảng này được mở rộng bằng việc tông đồ báo chí, hầu có thể đáp ứng nhu cầu của nhiều người sống ở phương xa. Tại Hoa Kỳ, Nguyệt san Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp hàng tháng cung cấp lương thực tinh thần cho hàng ngàn đồng hương trên khắp năm châu.

Sứ Mạng Truyền Giáo

Dòng Chúa Cứu Thế cũng đảm nhận việc truyền giáo cho lương dân tại Á Châu, Phi Châu và Châu Mỹ La-Tinh. Hiện nay, tu sĩ của các Tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế Hoa Kỳ đang phục vụ tại các trung tâm truyền giáo ở Puerto Rico, Brazil, Paraguay, Thái-Lan và Nigeria. Tại Việt Nam, các địa sở truyền giáo cho đồng bào Thượng đã được thiết lập từ lâu tại Fyan (Tuyên Ðức) và Pleikly (Pleiku).

Hoạt Ðộng Tông Ðồ Chuyên Biệt

Nhiều tu sĩ DCCT phụ trách các hoạt động tông đồ đặc biệt như quản nhiệm các giáo xứ theo yêu cầu của các Giám mục sở tại, tông đồ cho người câm điếc, tật nguyền, tuyên úy cho người di dân. Hiện nay một số linh mục DCCT Việt Nam hải ngoại đang làm tuyên úy cho các cộng đoàn Công Giáo Việt Nam, cho trại tù và phục vụ các thanh niên không gia đình.

Cổ Võ Lòng Sùng Kính Ðức Mẹ

Tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế có một lòng sùng kính đặc biệt đối với Mẹ Maria. Năm 1866 Ðức Thánh Cha Piô IX ký thác cho Dòng bức họa thời danh hay làm phép lạ, có tên “ÐỨC MẸ HẰNG CỨU GIÚP”. Ngài truyền: “Hãy làm cho cả thế giới yêu mến Mẹ!”. Ngày nay, việc kính Ðức Mẹ Hằng Cứu Giúp thường được tổ chức hàng tuần tại các giáo xứ Mỹ cũng như tại các Ðền Ðức Mẹ trên toàn thế giới. Bên quê nhà, đền Ðức Mẹ tại Thái Hà Ấp (Hà Nội), Huế và Sài-Gòn là những trung tâm hành hương thân thuộc với đồng bào lương giáo Việt.

Chứng Nhân Anh Hùng

Có bốn tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đã được tôn phong Hiển thánh, hai vị được tôn phong Á thánh và nhiều Ðấng đáng kính, với ơn Chúa, đang chờ ngày Giáo Hội vinh thăng hiển thánh. Những nhân chứng anh hùng của các bậc cha anh luôn là niềm hứng khởi, thúc đẩy thế hệ đàn em mạnh tiến.

Thánh AN-PHONG LIGUORI (1696-1787), Ðấng sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế, là Tiến Sĩ Hội Thánh và là một trong những nhà thần học luân lý lừng danh nhất trong lịch sử Giáo Hội. Mối quan tâm đến phần rỗi các linh hồn cũng thúc đẩy ngài dấn thân vào việc tông đồ bằng ngòi bút. Tổng số tác phẩm của ngài lên đến 111 cuốn, bao gồm các lãnh vực luân lý, tín lý và tu đức.

Thánh CLÊMENTÊ HOFBAUER (1751-1820) là một linh mục quản xứ nhiệt thành, một tông đồ tận tình với người nghèo và cả giới sinh viên trí thức. Ngài có công quãng bá DCCT qua khỏi biên cương nước Ý năm 1785.

Thánh GIÊRAÐÔ MAJELLA (1726-1755) là một thầy đồng trợ thánh thiện. Giáo dân kính ngài như thánh bổn mạng các bà mẹ và hằng kêu cầu ngài những khi gặp gian nan. Ðặc biệt, Hội Bảo trợ Ơn gọi DCCT cũng đã nhận Ngài làm Thánh Quan Thầy của Hội.

Thánh GIOAN NEUMANN (1811-1860) là một thừa sai di cư từ Âu Châu sang Hoa Kỳ. Ngài là Giám mục địa phận Philadephia, Pennsylvania, và là người đầu tiên thiết lập hệ thống trường công giáo tại giáo xứ ở Hoa Kỳ.

Á Thánh GASPAR STANGASSINGER (1871-1899ønh trọn cuộc đời ngắn ngủi cho giới trẻ. Ngài được Ðức Gioan Phaolô II nâng lên hàng Á thánh ngày 24- 4-1988.

Cha PHANXICÔ SEELO (1819-1867) là một nhà truyền giáo không mệt mỏi tại Hoa Kỳ. Ngài tận tụy phục vụ bệnh nhân dịch sốt vàng tại New Orleans, Louisiana và cuối cùng đã qua đời vì nhiễm bệnh dịch này.

Nhìn Về Tương Lai

Cha Thánh An Phong từng nói tiên tri về tương lai Dòng Thánh: “Hãy tin chắc, Dòng sẽ tồn tại cho đến ngày tận thế, vì đây không phải là công việc của tôi mà là công việc của Chúa”. Hơn 250 năm qua, lớp lớp các tu sĩ Dòng đã đáp lại lời mời của Chúa Cứu Thế, trở nên những sứ giả của Tin Mừng. Bằng việc tuyên khấn đức Vâng phục, Khó nghèo và Khiết tịnh, và được nâng đỡ trong đời sống gia thất huynh đệ, các anh em tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế đồng lao cộng tác xây dựng Nước Chúa.

Sống đời tu sĩ Dòng Chúa Cứu Thế không phải lúc nào cũng dễ. Nhưng cho những ai quảng đại chọn lối sống này, Chúa Giêsu đã hứa họ sẽ được gấp trăm ở đời này và hạnh phúc muôn đời với Ngài đời sau. Chân thành, trung thành và nhiệt thành, họ bước theo chân Chúa Cứu Thế, rao giảng Tin Mừng cứu rỗi cho muôn người.

NGUỒN GỐC

Dòng Salêdiêng Don Bosco, còn được gọi là Tu Hội Thánh Phanxicô Salê, do Thánh Gioan Bosco sáng lập ngày 09-12-1859 và được Tòa Thánh chính thức chấp thuận 19-02-1869, là Dòng thuộc quyền Giáo Hoàng.

TIỂU SỬ THÁNH SÁNG LẬP

Thánh Gioan Bosco sinh tại xóm Becchi, miền Piemont, nước Ý, ngày 16-8-1815, trong một gia đình nông dân nghèo. Cha của ngài là Ông Phanxicô Bosco qua đời khi ngài mới lên hai. Mẹ của ngài là Bà Magarita, đã nuôi dưỡng với một tình yêu dịu hiền nhưng cương nghị.

Ngay từ thời niên thiếu, ngài đã muốn tận hiến đời mình cho thanh thiếu niên. Như ngài đã viết: “Vào lúc chín tuổi, trong một giấc mơ, tôi đã được cho biết về sứ mạng giáo dục của mình : “Đây là cánh đồng làm việc của con. Con hãy biến những con thú dữ này thành những con chiên hiền lành”. Và ngài đã gặp phải nhiều khó khăn để biến giấc mơ của mình thành hiện thực. Để có tiền đi học, ngài đã phải làm nhiều việc khác nhau: chăn bò, việc đồng áng, bồi bàn cà phê, may quần áo, may giầy,…

Khi nghĩ về đời tu, ngài đã nghĩ đến việc đi tu Dòng Phanxicô. Nhưng Cha Linh Hướng của ngài là Thánh Giuse Cafasso, đã hướng dẫn ngài gia nhập Giáo phận. Sau khi được truyền chức linh mục ngày 05-06-1841, ngài muốn đi truyền giáo, Cha Linh hướng khuyên ngài ở lại Torinô và bắt đầu việc mục vụ tông đồ bằng cách đi thăm các Trại Giáo hóa dành cho các thanh thiếu niên phạm pháp.

Ngày 08-12-1841, ngài đã đón nhận một thanh thiếu niên đầu tiên, đó là em Bartôlômêô Garelli. Chúa nhật sau đó, ngài đón nhận thêm nhiều em nữa. Lúc ban đầu, ngài quy tụ các em để vui chơi giải trí, nhất là để tham dự Thánh Lễ và hoc giáo lý. Sau khi có nơi ở cố định ở Valdocco, Thành Torinô, ngài đã xây nhà nội trú, mở các lớp dạy học và các xưởng dạy nghề.

Để có thể giáo dục thanh thiếu niên, ngài đã phải cần đến nhiều người cộng tác. Năm 1859, để sứ mạng giáo dục của ngài được tiếp tục, ngài đã lập một Tu Hội với tên gọi là Tu Hội Thánh Phanxicô Salê, vì ngài muốn Thánh Phanxicô Salê là Bổn mạng, Tên gọi và Mẫu gương của Tu Hội ngài, nhất là Đức ái Tông đồ, Sự hiền lành và lòng kiên nhẫn. Chính vì thế, từ ngày 26-01-1854, các Cộng sự viên của ngài và sau đó các Tu sĩ của ngài được gọi là “Salêdiêng”.
Ngày 25-03-1855, Thầy Micae Rua đã tuyên khấn. Năm 1860, Sư huynh đầu tiên được Thánh Gioan Bosco đón nhận vào Dòng (Sư huynh Giuse Rossi). Sau đó, ngày 14-06-1862, 22 Tu sĩ Salêdiêng khác tuyên khấn.

Ngoài ra ngài cũng đã thành lập Dòng Con Đức Mẹ Phù Hộ (còn được gọi là Dòng Nữ Salêdiêng (05-08-1872). Năm 1876, ngài thành lập Hiệp Hội Cộng Tác viên Salêdiêng. Ba Nhóm này và nhiều Nhóm được thành lập sau này liên kết với nhau thành Gia đình Salêdiêng.

Để phát triển Dòng, năm 1847, ngài mở thêm một nhà ở Tôrinô. Năm 1863, ngài mở một nhà ở ngoài Tôrinô. Năm 1870, ngài mở một nhà nữa ở ngoài Vùng Piemont. Năm 1875, ngài mở một nhà ở ngoài nước Ý (Nice, Pháp) và gởi một phái đoàn truyền giáo đi Nam Mỹ (Patagonia và Argentina). Năm 1881, ngài thành lập một nhà ở Barcelona, Tây Ban Nha. Năm 1883, ở Braxin. Năm 1887 ở Chilê.

Sau nhiều năm tháng dâng hiến đời mình cho sứ mạng giáo dục thanh thiếu niên, Thánh Gioan Bosco qua đời ngày 31-01-1888. Lúc bấy giờ có 773 Tu sĩ Salêdiêng và 393 Nữ tu Con Đức Mẹ Phù Hộ. Ngài được Đức Thánh Cha Piô XI phong thánh ngày 01-04-1934. Nhân dịp Kỷ niệm 100 Năm ngài qua đời, ngày 24-01-1989, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã tuyên bố ngài là “Cha và Thầy của Giới trẻ”.

LỊCH SỬ HỘI DÒNG

A. TRÊN THẾ GIỚI
Hiện nay Dòng Salêdiêng Don Bosco có 16.234 Tu sĩ, trong đó có 116 Hồng Y, Tổng Giám mục và Giám mục, 10.720 Linh mục, 2.092 Sư huynh và 484 Tập sinh. Đang hoạt động trên 129 quốc gia.

B. LỊCH SỬ TỈNH DÒNG SALÊDIÊNG DON BOSCO VIỆT NAM

1. NHỮNG LỜI MỜI GỌI
Thánh Gioan Bosco đã tận hiến đời mình cho Sứ mạng Giáo dục Giới trẻ. Mẫu gương và lý tưởng sống của Ngài đã không ngừng lôi cuốn nhiều người hâm mộ ngài, muốn bắt chước và đi theo Ngài.

Thực vậy, cho dù con cái của Don Bosco chưa đến Việt Nam, nhưng mẫu gương và lý tưởng sống của Ngài đã đến Việt Nam qua cuốn sách Tiểu sử của Ngài.

Ngay từ năm 1926, Đức Cha Constantino Aiuti, Đại diện Tông Toà Đông Dương đã gửi thư xin Cha Giám tỉnh Tỉnh Dòng Salêdiêng ở Trung Hoa gửi các Tu sĩ Salêdiêng đến Hải Phòng để điều hành một trường Công giáo.

Sau đó, năm 1936, Đức Cha Gioan Baotixita Nguyễn Bá Tòng, Giám mục Giáo phận Phát Diệm, đã xin Cha Carlo Braga, Giám tỉnh Tỉnh Dòng Salêdiêng Trung Hoa, gửi các Tu sĩ Salêdiêng đến điều hành Tiểu Chủng viện, dạy học và điều hành trường dạy nghề. Cha Carlo Braga hứa sẽ đáp ứng trong tương lai gần, nhưng đã không thực hiện lời hứa.
Tiếp đến, Đức Cha Hồ Ngọc Cẩn đã đến tận Tôrinô, Trung Ương của Dòng Salêdiêng Don Bosco xin Cha Bề trên Cả Philip Rinaldi gửi các Tu sĩ Salêdiêng đến giúp giới trẻ Việt Nam.

2. NHỮNG BƯỚC ĐI ĐẦU TIÊN
Mãi tới năm 1940, vì nhu cầu làm Tuyên uý cho các binh sĩ Nhật, một Linh mục Salêdiêng người Pháp, Cha Phanxicô Dupont, vì biết tiếng Nhật, ngài được gửi đến Việt Nam để làm thông dịch viên.

Nhưng khoảng một năm sau, nhờ sự can thiệp can thiệp của Đại diện Tông Toà ở Hà Nội, ngài được xuất ngũ. Là một linh mục có lòng nhiệt thành, ngài lập tức lao vào các việc tông đồ từ Bắc chí Nam, từ Hà Nội đến Sài Gòn, qua việc giảng các Tuần Đại phúc, giải tội, hội thảo, làm tuyên uý Sinh viên Công giáo, tổng linh hướng các cấp lãnh đạo của Tổ chức Hướng Đạo. Là người con của Cha Thánh Gioan Bosco, ngài có lòng yêu mến giới trẻ nghèo khổ và bị bỏ rơi. Chính vì thế cuối năm 1941, ngài đã cộng tác vào việc điều hành một Cô nhi viện ở Hà Nội.

Lúc bấy giờ, Cô nhi viện có khoảng 100 em. Phần đa các em học tiểu học, một ít học trung học, cũng có một số nhỏ các em lớn đã biết làm việc bên ngoài. Cho dù đa số các em chưa có đạo, Cha Dupont vẫn tạo điều kiện cho các em đọc kinh và có huấn từ tối, cử hành thánh lễ một tuần hai lần. Khi có được một Salêdiêng trẻ, Cha Raimond Petit đến hỗ trợ, Cha Dupont ký hợp đồng với Cô nhi viện ngày 18.12.1941. Sau đó Cha nghĩ ngay tới việc lập trường huấn nghệ cho học sinh và dạy Latin để vun trồng ơn gọi cho một số em. Vào năm 1945, tình hình Việt Nam mất an ninh. Chính năm ấy, khoảng 23 giờ đêm, ngày 9 tháng 8 tại Kẻ Sở gần Nam Định, Cha Dupont bị một nhóm vũ trang vào trấn áp và bắt đem đi, rồi bắn chết. Cha Raimond Petit không có mặt đêm ấy.
Cha Petit tiếp tục đảm trách mọi công việc. Tuy nhiên, vì tình hình không cho phép, năm 1947, được phép Bề trên, Cha đưa khoảng 30 em về Pháp để chuyển vào các nhà Salêdiêng ở Nice và Marseille hoặc dần dần hội nhập các em vào những gia đình ở Marseille. Công cuộc Salêdiêng đầu tiên tại Việt nam sau 6 năm khởi động đã kết thúc.

3. NHỮNG BƯỚC KHỞI ĐẦU CHÍNH THỨC

(1) GIA ĐÌNH TÊRÊXA VÀ THỊ XÁ KITÔ VƯƠNG
Đức Cha Paul Seitz Kim và Gia đình Têrêxa
Đức Cha Paul Seitz Kim sinh năm 1904, thuộc Hội Thừa Sai Paris sang Hà Nội năm 1932. Năm 1940, ngài mua đất ở Ba Vì, Sơn Tây để lập nhà Tĩnh tâm và cắm trại cho giới trẻ. Sau đó, ngài thành lập Gia đình Têrêxa để tiếp nhận các thanh thiếu niên nghèo, vô gia cư và thất lạc gia đình. Năm 1946, vì chiến tranh, ngài di chuyển Gia đình Têrêxa từ Sơn Tây về Khu Trúc Lâm ở Hà Nội, một Dinh thự của Phó Vương Hoàng Cao Khải. Năm 1950, ngài mua thêm nhiều đất và thành lập Thi Xá Kitô Vương cho các trẻ mồ côi, theo mô hình “Gia đình nhỏ”, tự quản theo đường lối chung.
Ngày 16.06.1952, ngài được Tòa Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Giáo phận Kontum. Vì vâng lời, ngài đã chấp nhận, nhưng với điều kiện là phải có Dòng Salêdiêng đến iếp nối công cuộc của ngài.

Chính vì thế ngày 13.7.1952, Đại diện Tông tòa tại Hà Nội đã gặp Cha Bề Trên cả Renato Ziggiotti để xin ủy thác Gia đình Têrêxa cho Dòng Salêdiêng. Ngày 18.8.1952, Dòng chấp nhận điều hành Gia đình Têrêxa và Cha Carlo Braga, Giám tỉnh Tỉnh Dòng Trung Hoa Hong Kong, đã gửi Cha Antôn Giacomino (người Braxin) và Cha Anrê Majcen (người Slovenia) qua Việt Nam và các ngài đã đến Hà Nội ngày 03-10-1952. Kể từ ngày đó Dòng Salêdiêng Don Bosco chính thức có mặt tại Việt Nam.

Ngay từ sau khi đảm nhận, Dòng đã áp dụng Phương pháp Giáo dục của minh vào việc điều hành Gia đình Têrêxa. Việc áp dụng này gặp nhiều trở ngại, vì các học sinh lớn đang quen với đường lối giáo dục do Đức Cha Kim để lại. Vi dụ : Trước đây Gia đình Têrêxa được tổ chức như các gia đình nhỏ, trong đó các học sinh lớn và các học sinh nhỏ sống với nhau trong một mái nhà như trong một gia đình. Giờ đây, các em được chia theo đoàn, lớn với lớn, nhỏ với nhỏ.

Năm 1954: Khi Việt Nam bị phân chia, Dòng Don Bosco phải di chuyển vào Miền Nam. Vì không được Đức Cha Cassaigne chấp nhận cho vào Sài Gòn, Dòng đã chuyển các học sinh vào Ban Mê Thuột.

Sau một thời gian ngắn, vì không thể sống được ở Ban Mê Thuột, Dòng phải chuyển vào Sài Gòn, lúc bấy giờ Đức Cha Simon Hoà Hiền làm Giám mục Giáo phận Sài Gòn. Trong cuộc di chuyển này, phần đa các học sinh lớn xin ở lại Giáo phận Kontum với Đức Cha Kim, chỉ có các học sinh nhỏ chấp nhận cùng di chuyển xuống Sài Gòn.

Lúc ban đầu, (năm 1955) chuyển đến Thủ Đức, rồi sau đó khi Don Bosco Thủ Đức trở thành Đệ tử viện dành cho các học sinh muốn đi tu Dòng Don Bosco, còn các học sinh khác chuyển tới Gò Vấp, sau này thành Trường Kỹ thuật Don Bosco Gò vấp.

Để có thể hoạt động, lúc ban đầu Dòng Don Bosco Việt Nam có nhiều Tu sĩ và Linh mục ngoại quốc, như Nam Tư (Slovenia), Braxin, Ý, Pháp, Trung Hoa, Bỉ, Hà Lan.
Ngoài việc điều hành Gia đình Têrêxa, các ngài đã sớm quan tâm tới việc đào tạo ơn gọi, nhờ đó ngay từ năm 1957 đã có hai Tu sĩ Việt Nam đầu tiên, rồi từ năm 1960 đã bắt đầu mở Nhà Tập.

Năm 1961, Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam mở thêm một nhà nữa ở Trạm Hành (Đơn Dương). Năm 1972, mở Học viện ở Đà Lạt. Và năm 1973, bắt đầu xây một Trường Kỹ thuật nữa ở Đà Nẵng với dự kiến niên học 1975-1976 sẽ khai giảng.

Nhưng sau biến cố năm 1975, Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam mất nhà Đà Nẵng, Trạm Hành, Gò vấp, Thủ Đức.
Nhờ lòng ưu ái và quan tâm của các Giám mục Giáo phận (Sài Gòn, Xuân Lộc, Đà lạt), Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam có được một số Giáo xứ để có thể tồn tại, hoạt động và phát triển.

Tuy nhiên, vì bối cảnh xã hội và chính trị, từ năm 1975-1985, các Tu sĩ ngoại quốc đã phải về nước và một số Tu sĩ Việt Nam ra khỏi Dòng, năm 1975 có 120 tu sĩ, năm 1985 chỉ còn lại 78. Nhưng rồi, nhờ sự kiên trung, Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam không ngừng phát triển về số tu sĩ cũng như về các công cuộc.

Hiện nay, Dòng Salêdiêng Don Bosco Việt Nam có 304 tu sĩ, đang làm việc tại nhiều Giáo phận (Hà Nội, Bùi Chu, Thanh Hoá, Vinh, Kontum, Ban Mê Thuột, Đà Lạt, Xuân Lộc, Bà Rịa, Sài Gòn, Vĩnh Long, Long Xuyên).

ĐẶC SỦNG HỘI DÒNG
1. CHƯƠNG TRÌNH VÀ CHÂM NGÔN SỐNG
Thánh Sáng lập đã chọn một câu châm ngôn làm chương trình sống và truyền cho Dòng ngài sáng lập. Đó là: “Da mihi animas, cetera tolle – Xin cho con các linh hồn, còn những sự khác xin cứ lấy đi”.

2. CHÂN TÍNH NGƯỜI SALÊDIÊNG
Hiến luật Dòng Salêdiêng Don Bosco khẳng định : “Chúng ta, những người Salêdiêng Don Bosco (SDB) tạo thành một cộng thể những người được thánh tẩy, mau mắn vâng nghe tiếng Chúa Thánh Thần, nguyện thực hiện kế hoạch tông đồ của Đấng Sáng lập trong một hình thức chuyên biệt của đời tu: trong Hội thánh, các tu sĩ Salêdiêng là những dấu chỉ và người mang tình yêu Thiên Chúa đến cho thanh thiếu niên, đặc biệt những em nghèo khổ nhất (HL 2).

Về hình thức, Dòng Salêdiêng Don Bosco là Dòng Giáo sĩ, thuộc quyền Giáo hoàng, gồm có giáo sĩ và giáo dân sống cùng một ơn gọi trong sự bổ sung huynh đệ, (HL 4).

3. LINH ĐẠO HỘI DÒNG
Theo Hiến luật đầu tiên, mục tiêu của Dòng Salêdiêng là giúp các Hội viên nên thánh qua việc thực hành đức bác ái đối với nhau, nhất là đối với thanh thiếu niên nghèo và bị bỏ rơi. Trong Hiến luật được canh tân theo Công Đồng Vatican 2, mục tiêu đó được tái khẳng định : “Trong khi chu toàn sứ mệnh này, các tu sĩ Salêdiêng tìm được con đường nên thánh cho mình” (HL 2)

4. SỨ MẠNG CỦA HỘI DÒNG
Dòng Salêdiêng có sứ mạng rao giảng Tin mừng cho thanh thiếu niên, cách riêng những em nghèo khổ; đặc biệt chăm sóc các ơn gọi tông đồ; giáo dục đức tin trong các môi trường bình dân, đặc biệt với việc truyền thông xã hội; loan báo cho các dân tộc Tin mừng mà họ chưa được nhận biết. (HL 6)

Để thực hiện sứ mạng này, Dòng Salêdiêng tổ chức các công cuộc và hoạt động sau đây : nguyện xá và trung tâm trẻ, trường học thuộc mọi cấp và trung tâm huấn nghệ. Các trường nội trú và các nhà mở cho các trẻ em gặp khó khăn, các trường đại học, các trung tâm giáo lý và mục vụ. Công cuộc Salêdiêng chủ yếu nhắm đến các thanh thiếu niên.

BỔN MẠNG HỘI DÒNG
Bổn mạng chính của Dòng là Mẹ Maria Phù Hộ và Vô Nhiễm, Thánh Cả Giuse, Thánh Phanxicô Salê và Cha Thánh Gioan Bosco.

ĐỊA CHỈ
A. Trụ sở trung ương
DIREZIONE GENERALE OPERE DON BOSCO
Via della Pisana, 1111
00163 Roma – Bravetta – ITALIA
ĐT: (+39) 06.656.121
Fax: (+39) 06.656.12.556

B. Trụ sở tỉnh dòng Việt Nam
54 Đường Số 5, Khu Phố 4, Linh Xuân, Thủ Đức
Tp. Hồ Chí Minh – Việt Nam
ĐT: 08.37240.473
Fax: 08.37240 647
Email: sdbvn@vnn.vn

BỀ TRÊN ĐƯƠNG NHIỆM
A. Bề trên tổng quyền
LM. PASCUAL CHÁVEZ VILLANUEVA, SDB
Sinh ngày 20-12-1947, tại Real de Catorce, Mêhicô
Khấn dòng năm 1964
Linh mục: ngày 08-12-1973
Bề trên Cả: 2002-2008.2008-2014

B. Bề trên tại Việt Nam
LM. Giuse Trần Hòa Hưng, SDB
LM. GIUSE TRẦN HÒA HƯNG, SDB
Sinh ngày 20 - 11 - 1958 tại Bà Rịa - Vũng Tàu.
Khấn lần đầu ngày 14 - 08 - 1977.
Thụ phong Linh mục ngày 28 - 10 - 1995.
Giám tỉnh: 2009

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.